Sign up
80 năm trước, thi hào Tagore đến Sài Gòn
daominhtuanus | 08 Jul, 2009, 13:52 | Chung | (96 Reads)
 

Trong lịch sử văn hóa thế giới, ít có một người có năng lực sáng tạo phong phú và phi thường như Tagore. Ông đã sáng tác 52 tập thơ, 42 vở kịch, 12 cuốn tiểu thuyết, hàng trăm truyện ngắn hay, hàng ngàn bài hát có giá trị; ngót ngàn bức tranh, trong đó có nhiều bức đã được trưng bày trong các bảo tàng mỹ thuật lớn trên thế giới.

Ông còn là một nhà triết học lừng lẫy, nhà giáo dục tâm huyết, nhà nghiên cứu văn học Ấn Độ cổ đại và ngôn ngữ Bengali.

Sau chiến tranh thế giới lần thứ I, ông đi khắp nơi trên thế giới để cổ vũ cho phong trào đấu tranh giành độc lập của các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Ông đã đến Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc, Anh, Pháp, Ba Tư và cả Việt Nam.

Năm 1913, với tập thơ Dâng, ông trở thành người châu Á đầu tiên lãnh giải Nobel về văn học.

Năm 1924, tin Rabindranath Tagore sẽ đến Việt Nam đã làm tốn hao không biết bao nhiêu sách vở, bút mực. Hầu như các báo, nhất là làng báo Sài Gòn, nơi Tagore dự định dừng chân ba ngày trên đường du thuyết khắp thế giới để cổ vũ cho hòa bình, đã dành nhiều trang bài, đăng ảnh, giới thiệu về thân thế, sự nghiệp văn chương của nhà thi sĩ vào loại bậc nhất của Á Đông này. Ai ai cũng háo hức chờ đón vị khách quý đến từ Ấn Độ. Nhưng người mong đợi Tagore đến Sài Gòn nhiều nhất vẫn là tầng lớp trí thức yêu nước.

Thi sĩ Đông Hồ cho rằng trí thức Việt Nam khoảng mấy năm đó "say mê với các nhà cách mạng ra mặt chống đối với vũ lực đế quốc. Họ thấy Tagore cũng như Gandhi thuộc về hạng người chí sĩ hy sinh ái quốc dám lên tiếng, dám hành động chống xâm lăng, chống đế quốc thực dân để đòi hỏi độc lập cho nước nhà. Họ không được công khai đón tiếp Phan Sào Nam, Nguyễn Thượng Hiền thì họ đón Tagore cho hả lòng hả dạ"...

Chuẩn bị công phu như vậy, nhưng cuối cùng Tagore... đã không đến Sài Gòn. Từ Trung Quốc, ông đáp tàu về thẳng Ấn Độ để lại sự ngỡ ngàng trong lòng những người ngưỡng mộ tài năng và tính cách của ông. Nhưng năm năm sau, Tagore đã ghé lại Việt Nam trên đường từ Nhật Bản đi Angers. Không thấy các báo thời đó nói rõ Tagore đã lưu lại Sài Gòn trong thời gian bao lâu, bốn hay năm hôm, nhưng khi tàu thủy vừa cập cảng ngày 21-6-1929 thì ngay trong ngày, báo Tribune Indochinoise đã tổ chức một cuộc mít tinh trọng thể để chào mừng Tagore.

Ký giả Lê Trung Nghĩa, phóng viên của báo, đồng thời là một họa sĩ có tài, đã đến phỏng vấn Tagore và vẽ chân dung của ông bằng chì than trên giấy trắng khổ 50 x 65 cm. Bức ảnh tranh Tagore râu tóc bạc phơ, áo đen, ngồi cầm bút, đặt tay lên bàn, có chữ ký Tagore ở một bên góc hiện nay vẫn được gia đình nữ sĩ Ái Lan lưu giữ.

Sáng chủ nhật 23-6, Tagore ghé thăm báo Phụ nữ Tân văn và Nha Thương cuộc. Những người làm báo Phụ nữ Tân văn có đưa cho Tagore xem số báo viết về Tagore có đăng hình ông thì mới phát hiện ra: thì ra những bức ảnh đã đăng trong các báo xưa này còn kém xa cái nét tươi ở gương mặt, cái tinh thần ở đôi mắt, dường như có hào quang sáng rực ở con người có "tiên phong đạo cốt" ấy.

Bà Nguyễn Đức Nhuận trong bài viết "Thi sĩ Tagore ghé viếng tòa soạn báo Phụ nữ Tân Văn" cũng phải cải chính: "Trước tôi vẫn tưởng ông Ấn Độ này cũng da đen như ông Gandhi và phần nhiều người xứ ấy, bây giờ mới biết là mình lầm. Ông cao lớn người, tuổi gần 70 mà quắc thước lắm. Nước da trắng mịn và ửng đỏ; mũi cao, trán rộng. Rõ ràng là trán của một nhà tư tưởng, bàn tay giống như bàn tay của các bà khuê các, ngón tròn mà trắng.

Ông thuộc về một dòng vọng tộc, sanh trưởng ở một chốn phong lưu; hàng ngày chỉ có một việc ngâm thơ, vịnh phú, bởi thế mới có mấy cái đặc sắc ấy. Viết tới đây, tôi còn nhớ lời ông Gandhi trong một cuộc bút chiến với ông - bút chiến mà đằm thắm lắm - có tật hô rằng "Ông Tagore, ông cũng phải đi dệt vải như chúng tôi!". Dệt vải thì chắc là nhà thi sĩ không được sành, chớ dệt nên những câu cẩm tú thì khéo lắm, khéo cho đến nỗi ông là người Á Đông lần thứ nhất được phần thưởng Nobel".

Đến Sài Gòn, Tagore bắt mắt ngay với bộ cánh Việt Nam, mặc dầu bề ngoài ông cũng chẳng khác gì "một bậc lão thành đạo mạo An nam" trên đội cái mũ nhung đen, dưới mặc cái áo trắng dài và rộng, kính kẹp mũi, râu trắng dài.

Người Sài Gòn ngạc nhiên và thích thú trước cái ý tưởng ngộ nghĩnh của ông: muốn đi dạo phố trong bộ cánh Việt Nam. Điều đó không có gì khó khăn. Ông được dẫn đến một nhà may nổi tiếng, thế là chỉ trong vòng một ngày nguyện vọng của ông được thỏa mãn. Ngay buổi sáng hôm sau, trên đường phố tấp nập đông vui có một người Ấn Độ cao lớn, râu tóc bạc phơ diện bộ áo dài gấm bông bạc, khăn đóng nhiễu đen, quần lãnh trắng, giày Gia Định, ung dung đi bát phố Sài Gòn, hệt như một người Sài Gòn.

NGÔ QUANG HIỂN

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=169167

BÊN EM NGÀY Ở HUẾ…
daominhtuanus | 27 May, 2009, 08:34 | Chung | (210 Reads)
 

Anh bắt gặp trên tóc

Thoáng hương xưa rất Huế

Của một thời vụng dại

Chẳng đếm bước em đi ...


Anh đếm được trên vai

Mười sợi thương sợi nhớ

Sợi nào dành cho Huế

Sợi nào để riêng anh ?


Anh bắt gặp bước chân

Vào đời anh nhè nhẹ

Đôi guốc mộc ngày xưa

Chẳng vấn vương bụi trần


Anh bắt gặp được em

Anh tìm lại được mình

Bên nhau ngày ở Huế

Mộng đời cứ phiêu diêu


ĐÀO MINH TUẤN

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=158775

THÔI ! CỨ THẾ…
daominhtuanus | 25 May, 2009, 16:45 | Chung | (87 Reads)
 

Em nói yêu ta - một chiều mưa giăng kín

Khói sông Hương - những hạt mưa luân vủ

Trời đất liêu xiêu...

Ta cũng liêu xiêu...


Tuổi đôi mươi anh yêu em như chưa từng gặp

Gặp đã trăm năm hay đợi từng thế kỷ

Hương ngọc lan thoảng bên thềm ngày ấy

Để giờ này anh vẫn ầu ơ...


Chiều em nói yêu ta - mưa không muốn tạnh

Mưa ướt môi non

Mưa vương tóc huyền mượt

Cơn mưa chiều

Ta chợt thấy liêu xiêu...


Và ta yêu nhau

Phượng vĩ chưa nở kịp hai mùa

Cau Vỹ dạ chưa kịp ra trái bói

Đi trên đường Phượng bay - ta chẳng tìm ra lối củ

Nụ hôn tan - hương tóc thì con gái cũng tan theo...


Mười năm tìm lại cơn mưa

Hai mươi năm tìm lại cơn mưa

Em có nhạt nhòa son phấn ?

Ta bây chừ ngồi đếm mưa rơi


Cứ tưởng bỏ xứ đi là hết nổi đau đời

Ai ngờ ba mươi năm - chiều mưa nhớ lại

Lòng quặn đau - đau chưa từng gặp

Thôi ! cứ thế mưa đi, mưa mãi..

Em cứ như cánh chim mãi không về..


ĐÀO MINH TUẤN

Cà Mau chiều mưa tháng 5 - 2009

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=158314

Nhật ký tuổi 30 của Trịnh Công Sơn
daominhtuanus | 11 Apr, 2009, 09:22 | Chung | (144 Reads)
Normal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4

Đây là một đoạn nhật ký Trịnh Công Sơn viết năm 1969, khi vừa tròn 30 tuổi, lúc anh đã có nhiều sáng tác được công chúng biết đến và yêu mến...

Vào đầu mùa xuân này tôi có ba mươi tuổi chẵn. Câu nói đã  xa lặp lại mãi âm thầm trong trí tôi: Tam thập nhi lập. Riêng tôi chả lập được gì cả.

Tôi đang ở trong một thành phố có những vết tích cổ xưa của đền đài thành quách. Bây giờ những thứ đó cũng không nói lên được điều gì. Thỉnh thoảng nhìn lại cũng có gợn lên trong lòng một chút buồn bâng quơ vậy thôi. Người ta chỉ còn chú ý đến những đổ nát quanh thành phố và ngay trên những đền đài đó.

Có lần tôi cùng vài người bạn đưa một cô bạn từ xa đến, đi thăm những đền đài này, cô bạn thắc mắc hỏi sao người ta chưa lo sửa sang lại những nơi này. Người bạn tôi cười bảo: lo gì, cứ làm một cuộc cách mạng, lo cho mọi việc khác xong thì một trăm cái đền đài này xây cũng nổi. Đó là câu chuyện nhỏ của năm vừa qua, vào khoảng đầu mùa hạ. Bây giờ là mùa xuân của một năm mới. Mùa xuân mà tôi vừa đến tuổi ba mươi.

Tôi đã dự định sẽ tổ chức sinh nhật của mình thật lớn để mừng tuổi khởi đầu cho sự trưởng thành thật sự. Tôi có nói điều đó với mấy đứa em, cả với mẹ tôi nữa. Những đứa em gái có vẻ mừng, nhắc nhở luôn và chờ đợi. Chúng nó hỏi tôi tổ chức như thế nào, dọn ăn ra sao và mời những ai đến. Tôi cũng vẽ ra một không khí thật rực rỡ và bảo thôi chờ đến đó hẵng hay.

Ngày sinh nhật cuối cùng đã đến cùng với mùa xuân. Hàng cây trước nhà đã thay lá xanh nõn. Và tôi, cũng như những đứa em đã quên hẳn ngày sinh nhật đã vẽ ra từ năm ngoái. Hai ngày sau ngày sinh nhật, tôi nhận được một điện tín. Đó là điện tín của một người con gái dễ thương nhưng không yêu gửi một lời chúc mừng sinh nhật.

Tôi đã bỏ một buổi chiều để nghĩ về ngày sinh của mình cách đây ba mươi năm. Làm sao còn nhớ được cái ngày khởi đầu cho một đời người xa heo hút như thế. Tôi thử kiểm điểm lại xem mình đã làm được gì. Tôi nhớ năm mười lăm tuổi có lần tôi đã mơ ước được đến tuổi hai mươi để làm người lớn, để được hút thuốc, được tự do đi chơi nơi này nơi nọ, được làm tất cả những gì mà với tuổi 15 tôi chưa có quyền làm. Như thế mà đã 15 năm nữa. Tuổi mơ ước làm người lớn cũng đã đi qua. Đi qua với một số kỷ niệm buồn vui có khi không còn nhớ rõ.

Thời gian mơ ước được làm người lớn cũng là thời gian của mối tình đầu tiên. Cũng là thời gian đã được yêu và được nhìn người yêu mình đi lấy chồng. Cuộc tình duyên này không cân xứng về tuổi tác nhưng cân xứng về danh vọng và nhan sắc. Điều này đã trở thành cổ điển và không gây thêm được một chút ngạc nhiên nào trong xã hội nho nhỏ của thành phố. Tuy thế, riêng tôi là một thất vọng lớn không lường được. Sau đó là những mối tình khác nhưng tôi vẫn khó xoá được mặc cảm (tuy càng ngày càng mỏng dần trong tôi) đối với thành phố này.

Bây giờ tôi đã 30 tuổi.

Ba mươi cây nến không cây nào được đốt lên. Buổi chiều trong căn phòng chỉ còn lại mình tôi, những đứa em gái đã đi học. Một thằng em trai làm ăn ở xa. Một đứa khác đang hành quân trên đỉnh một núi cao mà có lần nó bảo là sương mù quanh năm lạnh lắm. Mẹ tôi thì sang phố từ sau bữa cơm trưa.

Tôi nhớ đến tên những thằng bạn thân, bây giờ mỗi đứa đang ăn, ngủ, nhậu hay hiểm nguy trên những địa thế khác nhau của mặt đất này. Ví dụ lúc này có thằng Tường  ở đây thì nó sẽ uống thật cạn một ly rượu và mang cái ly ra dòng sông bên cạnh nhà để vứt xuống. Không hiểu nó đã vứt được bao nhiêu cái ly xuống biển, xuống sông, xuống đèo cho những sinh nhật bạn bè. Đó cũng là một thói quen làm người khác dễ nhớ đến. Tất cả đều đã phiêu bạt. Như tôi cũng đã phiêu bạt.

Những lần quay về lại với căn nhà này tôi luôn luôn mang cảm giác sự trở về của một đứa con đi hoang. Thời gian trở về bao giờ cũng là thời gian để nằm nghỉ và dưỡng sức. Như một con bệnh mệt mỏi, rã rời...

TRỊNH CÔNG SƠN

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=147180

DÃ TRÀNG CA - TRỊNH CÔNG SƠN
daominhtuanus | 31 Mar, 2009, 09:29 | Chung | (186 Reads)
 

Như một nén nhang tưởng về một Người tài hoa của mọi thời đại...

tràng 1:
Lời biển vọng

tràng xe cát biển Đông
tràng tràng tràng xe cát biển Đông
tràng , tràng tràng xe cát hoài công
Trùng dương ơi mấy ngàn năm
Gọi miên man cho sóng triều lên
Quên tràng ngày đêm xe cát

Trùng dương ơi sao nỡ bỏ quên
Gọi cơn đau khi sóng triều lên
Công tràng muôn đời vỡ tan
Trùng dương , trùng dương gọi xa cồn nhớ
Trùng dương đưa sóng vào bờ
Ngày đêm nghe nắng nghe mưa
tràng vẫn đem hoài công
Hải đăng mắt đêm gọi mãi
Trùng dương đưa sóng vào bờ
Đùa lên biển cát hoang vu
xoá từng mảnh công tràng

tràng khóc cho thân mình
Trùng dương trùng dương gợi xa cồn nhớ
Trùng dương ..... nhớ ....


Tiếng hát của tràng - bể cát và thân phận đó

Khi mưa lên, khi nắng về,
khi sương rơi, khi thu buồn,
khi chim én bay vào mùa xuân,
mình tôi đi, triền núi đến,
tôi xe cát nghe thân lưu đày,
mình tôi đi, làn sóng đến,
nghe công vỡ cho thân ru mềm.
Trùng dương ơi đã mấy ngàn năm,
gọi miên man cho sóng triều lên,
quên tràng đêm ngày xe cát,
trùng dương ơi sao nỡ bỏ quên,
gọi cơn đau khi sóng triều lên
công tràng muôn đời vỡ tan.


Bãi cát chiều và lời vỗ về của người khách lạ

Này tràng ơi nghe thân lưu đày,
ngàn năm còn mãi, ngàn sau còn mãi
cho vai thêm gầy khi nắng khi mưa .
Trùng dương lên, trùng dương lên,
bờ cát trắng, bờ cát trắng,
trùng dương lên gọi mây thêm cho sóng cuồng nộ


Niềm đau vô vàn của thân phận

Thôi còn gì nữa đâu, còn gì nữa đâu,
xác tràng trắng bể thù sâu
Không còn gì nữa đâu
còn dài mãi sau đời lên cơn đau


Lời nói trên không

Trùng dương ơi đã mấy ngàn năm
gọi miên man cho sóng triều lên
quên tràng đêm ngày xe cát .
Trùng dương ơi sao nỡ bỏ quên
gọi cơn đau khi sóng triều lên
công tràng muôn đời vỡ tan


tràng 2:
Tuổi 20 vào đời

Khi tôi nghe đời gọi chân bước vô không ngập ngừng
khi tôi nghe đêm dàị lòng hoài mong ánh sáng
khi hai mươi tuổi rồi có những đêm chong đèn ngồi
chợt nhìn sâu đêm tối chợt hồn nghe tiếng nói tràng
tràng tràng xe cát biển đông
tràng tràng tràng xe cát hoài công


Niềm đau khoảng không

Từ đó tuổi hai mươi không còn biết vui
Từ đó đêm suy tư cho đời lắng sâu,
những đêm khuya về rã rời,
bàn tay hoang vu gọi mãi,
gọi vào niềm không buốt đau,
gọi vào ngày sau nhớ nhau


Buồn vui và tuổi đó

Xuân hạ thu đông bốn mùa làm tóc trắng,
tôi gọi tên tôi khắp chốn non ngàn,
tôi dìu tôi đi giữa trời lên bão tố,
xuân hạ thu đông theo gót chân hờ


Chốn nương náu

Gọi vào tình yêu, gọi vào tình yêu, gọi vào tình yêu,
sáng lên đồi núi bắt loa gọi vào tình yêu


Lời buồn thánh

Ôi ! thiên đàng thuở nhỏ, ngai vàng từ thuở
thuở mới sinh ra trời đất là nhà
nay đã mất rồi trong tuổi đôi mươi
Ngai vàng đã mất lâu rồi
thân đày dấu trong môi cười
tay dài gối giấc ngủ vùi
nghe mình hóa thân lâu rồi


Bốn mùa là niềm vô vọng

Xuân hạ thu đông bốn mùa làm tóc trắng
tôi gọi cơn đau cho nước vỡ nguồn
tôi dìu tôi đi giữa trời lên bão tố
tràng hai tay với tháng năm chờ


Ngỏ ý

Còn gì đâu, còn gì đâu mà không thương nhau
Niềm hoang vu gói đầy mắt dại
Niềm cô đơn như mây ngàn tới
còn gì đâu còn gì đâu mà không thương nhau


Chốn trú ẩn cuối cùng
(Tình yêu mọc cánh thiên thần)

Tên tháng ngày viết trên môi cười
đốt đêm dài nghe ngóng tình yêu
nghe tràng, xuống hai vai gầy
đốt cơn buồn, đi đến tình yêu
Gọi vào tình yêu, gọi vào tình yêu, gọi vào tình yêu
Ta ra ngàn lối bắt loa gọi vào tình yêu

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=144178

Về CÀ MAU ĂN CÁ LÓC NƯỚNG TRUI NHỮNG NGÀY XUÂN ĐẾN TẾT VỀ…
daominhtuanus | 13 Jan, 2009, 09:38 | Chung | (838 Reads)
 

Khi những cơn gió Tết trở về, khi những cánh đồng còn trơ gốc rạ, đây đó thoang thoảng mùi hương của rơm, của lúa, của cả những bãi sình non... Nắng cũng bắt đầu chang chang trên những cánh đồng, đìa, bàu, ao, sông, rạch dần cạn nước thì người nông dân miền cực Nam này trong lúc tạm rảnh tay rảnh chân, chuyển sang công việc tát ao, tát đìa bắt cá để cải thiện bữa ăn và nếu có dư thì làm mắm dự trữ cho mùa mưa sắp đến và nhất thiết phải để dànhcho bằng được trong nhà vài khạp cá đủ loại để đổi món cho những ngàyxuân về, tết đến  thừa mứa những thịt mỡ, dưa hành...

Về quê tôi, Cà Mau ăn cá lóc nướng trui những ngày xuân đến tết về...




Thời đó, cũng tròm trèm ba mươi năm, tôi cùng gia đình vì cuộc mưu sinh rời bỏ miền Trung khốn khó để vào
Nam mong làm cuộc lập thân, lập nghiệp. Cũng là cái thời mà tôi cảm nhận một cách rõ nét nhất cụm từ rừng vàng biển bạc ngay trên chính mảnh đất mà ngày nay tôi xem chính là quê hương của mình. Những hình ảnh từng đoàn, những đứa trẻ vô tư mặc quần ngắn, ở trần, tóc tai vàng cháy cột túm sau gáy, bên hông mang cái giỏ, tay cầm cái rổ nhỏ ngồi trên bờ coi người lớn tát đìa, chờ khi nước cạn người lớn bắt qua một lượt cá thì cả bọn nhảy xuống "bắt hôi". Ngày đó, đồng ruộng, ao đìa chưa bị săn lùng ráo riết để tham gia thị trường như bây giờ, thuốc trừ sâu cũng còn xa lạ và chưa có nhiều trên những đồng đất xứ này, con cá con tôm thỏa sức vẫy vùng, sống an bình nhiều năm mà không bị con người lùng bắt nên có nhiều con cá lóc, cá trê khi bắt lên có người đặt tên là cá cụ tổ, vì nó nặng tới 3 - 4 kg cá biệt có con lên hàng chục ký là chuyện thường ngày ở ... đìa! Thịt cá chắc, ngọt, bỏ vô miệng nhai, nuốt tới đâu nghe ngon tới đó.



Vào
Nam cũng có miếng vườn, vườn nhà tôi lúc đó cũng có mấy cái đìa nho nhỏ thôi, năm nào gần Tết, ba tôi thường tổ chức tát đìa. Khỏi phải nói quang cảnh rộn rịp của ngày tát cá như thế nào. Trước ngày tát cá, gia đình đã chuẩn bị lu, hũ, khạp da bò để rọng cá; ba tôi thì vội vàng đi mướn chiếc máy nổ và khỏi cần gọi thì mấy gả trai tráng quanh xóm cũng tề tựu phụ việc.

Khi cái máy bơm gần cạn nước thì mấy chàng thanh niên chuyển qua tát gàu vai, nước càng cạn cá nổi lên càng nhiều, nhảy rồ rồ dưới mặt nước lấp xấp, mấy chú cá lóc cố tung mình vọt lên cao để thoát thân, còn mấy chị tôm càng thì quơ râu dày đặc, những chiếc càng như những chiếc đũa đưa lên khỏi mặt nước trông thật vui mắt, tép bạc đất nổi lềnh khênh bắt không kịp. Những người có tay sát cá nhảy xuống trước, họ chộp mấy con cá lóc bự lên rọng nước cho nó tỉnh táo sạch sẽ để mấy bà nội trợ làm món ăn, mấy con tôm cũng được tiếp tục hốt lên rọng nước trước. Cá trê, cá rô, lươn, cá chình, cá chạch là những loại chui sâu, luồn kỹ nên phải chờ nước thật cạn mới nắm đầu nó được. Trong khi đó, những người phụ nữ lo chuẩn bị bữa cơm cho tươm tất, nào rượu đế để mấy ông đưa cay, nào lo nấu nướng mấy món ăn ngon để bồi dưỡng cho bộ phận tát đìa. Món ăn được mọi người ưa thích nhất vẫn là món cá lóc nướng trui, bất kỳ nhà nào tát đìa cũng phải làm để cánh đàn ông đưa cay.

Những con cá lóc vừa ăn không lớn quá cũng không nhỏ quá được xiên từ miệng đến đuôi bằng cái que tre còn tươi, những cái que cá được cắm xuống đất, rơm chất chung quanh với lượng vừa đủ, cái khéo của người nướng là biết chất rơm tới mức nào là đủ, làm thế nào rơm vừa tàn thì cá cũng vừa chín. Cá nướng chín quá thì mất ngọt, chưa đủ đô thì thịt nhão và tanh. Rơm nhiều thì cá khét. Rơm ít, nướng nửa chừng chất rơm thêm thì khúc đầu sống, khúc đuôi khô nước. Trong khi than còn đượm, thì bọn trẻ tranh thủ nướng thêm tôm càng hoặc những con rắn bông súng mà chúng bắt hôi được khi dọn đìa. Nướng con nào chúng "giải quyết" ngay con nấy cho nóng hổi vừa thổi vừa ăn, vừa ăn vừa nướng, tay làm hàm nhai ngon đến nỗi nuốt không kịp thở.




Bữa ăn chính với cá lóc nướng trui được chuẩn bị chu đáo lắm. ăn cá lóc nướng trui mà ăn với mắm me là không phải dân khẩn hoang, không phải dân Cà Mau. Cá lóc nướng trui được chấm bằng muối cục đâm nhuyễn với những trái ớt hiểm hái vội bên vườn. Rau sống thì có đủ loại của các loại rau đồng như: Diếp cá, húng cây, húng lủi, tía tô, đọt dừng, đọt sộp, đọt cóc, đọt xoài, chuối chát, nếu có xoài non thì bằm nhuyễn cho thêm hương thêm vị.

Khi cá tôm bắt đầy lu đầy hũ rồi, mọi người tắm sơ cho sạch bùn rồi bắt đầu quây quần bên mâm cơm cạnh đìa. Đã đói bụng nhưng cũng từ từ cuốn miếng rau với cá sao cho khéo, cho bắt mắt để miếng ăn ngon hơn. Rau xanh sắp có lớp có lang, đặt miếng cá trắng phao còn nóng hôi hổi vào giữa, gói lại chấm vào chén muối cục đâm nhuyễn với ớt hiểm, cho vào miệng và rồi đưa cay bởi cốc rượu đế sủi tăm... cả đất trời phương Nam đang tan dần trong từng thớ thịt, từng mạch máu của người phương Nam.

Tôi đã thành người phương Nam tự bao giờ...

Hãy về Cà Mau một lần, nhất là trong dịp xuân về Tết đến, để ăn cá lóc nướng trui để làm người phương Nam một lần nhé!

ĐÀO MINH TUẤN

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=123481

TH…
daominhtuanus | 28 Oct, 2008, 20:05 | Chung | (133 Reads)
 

Anh gặp em một chiều mưa xứ Huế

Xối xả Tràng Tiền, trắng xóa dòng Hương

Những giọt nước mặn môi và tê buốt

Con tim anh ấm lạ thường


Rồi những đêm thềm nhà

Em lại nói yêu anh

Hương Ngọc Lan vẫn thoảng

Môi em nồng - những nụ hôn cháy bỏng


Ta vẫn yêu nhau

Hương Ngọc Lan không kịp tỏa đôi mùa

Lũ Đập Đá chỉ hai lần anh lội cùng em

Dòng sông Hương không cùng ta đi suốt cuộc tình

Ta lại xa nhau


Muời năm tìm lại...

Hai mươi năm tìm lại...

Để giờ này ba mươi năm anh tự vấn một mình

Tháng ngày dài sao chẳng dễ quên nhau

Để mùi hương thì con gái vẫn quyện mãi trong hồn

Và đau thêm - và nhớ thêm - và chắc phải lại tìm em...

Trời vẫn mưa - những cơn mưa Cà Mau chóng tạnh

Anh vẫn đi - chắc phải lại tìm em...

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=103193

Dư Âm
daominhtuanus | 23 Sep, 2008, 16:23 | Chung | (150 Reads)
 

Chiều rơi màu lá đỏ
Thoáng dư âm ngọc ngà
Mấy vần thơ nho nhỏ
Trôi trong mắt nhạt nhòa

Chiều cuối đông buốt giá
Tìm ai năm tháng qua
Cuối chân mây người ấy
Có thương cuộc tình xa

Hồ xưa còn in bóng
Bài thơ chìm đáy trong
Chiều rơi vàng theo nắng
Nắng đem màu nhớ mong

Thơ người

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=94347

HUẾ ƠI...
daominhtuanus | 31 Jul, 2008, 22:26 | Chung | (1348 Reads)
  
 

 "Răng mà anh bỏ Huế mà đi đành đoạn như rứa !" Chao ôi, câu nói đậm chất ân tình của người thương ngày xưa đã đưa tôi - một đứa con bỏ Huế mà đi hơn hai mươi năm về lại với dòng sông Hương trầm mặc, về lại với núi Ngự Bình uy nghi, về lại với những thành quách vang bóng một thời...Tôi về với Huế ...

Hơn hai mươi năm trước vì cuộc mưu sinh, hơn hai mươi năm trước vì mộng lập thân...tôi xa Huế. Hai mươi năm sau, một câu nhắn gởi của người thương tôi quẳng hết sự đời để về với Huế những ngày xuân.

Về với Huế là về với di sản văn hóa, là về với hệ thống di tích cố đô mà  UNESCO đã công nhận là di sản văn hóa thế giới. Vâng! qua hàng trăm năm tồn tại trong môi trường khí hậu khắc nghiệt, bão lụt thường xuyên xảy ra, nhiều thời kỳ đất nước có chiến tranh ác liệt kéo dài, di tích cố đô có lúc bị tàn phá nặng nề một số công trình đã trở thành phế tích, nhưng nhìn tổng thể ta có thể cảm nhận đây là một hệ thống kiến trúc cung đình có quy mô lớn nhất, còn lại duy nhất của Việt Nam với hơn 1000 đơn vị công trình và hàng vạn cổ vật cung đình, tiêu biểu cho nghệ thuật kiến trúc cung đình tinh tế của Việt Nam. Còn gì bằng khi cùng người thương của những ngày xưa đi bên những thành quách củ mà nhắc đến những chuyện của ngày xưa...ngày mà hai đứa còn đỏ mặt mỗi khi gặp nhau, mỗi khi nghỉ về nhau...

Về với Huế là về để bắt gặp những kiến trúc kinh thành, cung điện ở Huế. Không to lớn choáng ngợp mà khô khan như kiến trúc của một số kinh đô khác. Ngược lại chúng ta sẽ bắt gặp một hình thái kiến trúc tinh tế, các công trình kiến trúc gắn bó với cảnh quan sông núi hữu tình, chứa đựng những đường nét trang trí chạm khắc nhỏ nhắn tinh xảo - như cô gái Huế mà bạn đang đi cùng... Nhiều người lấy làm thú vị khi được biết vùng đất xây dựng nên kinh thành Huế nguyên là một mặt bằng được sắp đặt lại bởi công sức lao động của hàng vạn dân binh. Nhớ lại những ngày xưa, khi Vua còn trị vì thì bằng một nguồn nhân lực rất lớn. Cụ thể dưới thời vua Gia Long, người ta điều chỉnh lại vùng đất "vương đảo" Phú Xuân, lấp dòng Kim Long cũ, đào mới một loạt các sông Ngự Hà, Đông Ba, An Hòa, Bạch Yến để tạo ra một thế đất cân đối bên dòng sông Hương, đối diện với tiền án núi Ngự, hai bên là Cồn Hến và cồn Giả Viên hữu Bạch Hổ, trong một thế hài hòa tự nhiên đến nỗi ít người nhận ra được quá trình con người đã xẻ đất, lấp sông có thể đây cũng là lời nguyền nên những người yêu ở Huế thường phải chia lìa nhau vì chẳng là gì cả! Ngày xưa người đã xẽ sông ngăn núi mà! Tôi và em chẳng gặp được nhau có phải vì lời nguyền này không?




Nằm ở vị trí trung tâm, kinh thành Huế với hai hệ thống Thành nội, Đại nội là một mẫu mực của kiến trúc cân đối. Đại nội với Hoàng thành. Tử Cấm thành và hàng trăm công trình kiến trúc tinh xảo, sơn son thếp vàng, bố trí cân xứng thể hiện nghiêm ngặt trật tự lễ nghi và uy thế chốn cung đình. Thành nội Huế với Kỳ đài vững chãi, uy nghi, với 10 cổng thành đối xứng, với hệ thống các dinh thự Lục Bộ, Cơ Mật viện, Quốc Tử Giám, Tàng Thư lâu... phản ánh bộ mặt sinh hoạt chính trị và văn hóa của chốn kinh kỳ một thời.

Phong cách kiến trúc tạo cảnh tinh tế của cung đình Huế còn đạt đến sự hài hòa tuyệt mỹ ở một số lăng tẩm nằm ẩn mình trong vùng đồi núi ven hai bờ sông Hương, ở phía Tây Nam kinh thành. Mỗi lăng vua là một phong cách kiến trúc riêng, thể hiện một phần những yếu tố triết lý, tâm linh và giá trị thẩm mỹ riêng biệt. Và bao trùm lên tất cả là lăng vua Nguyễn không gợi lên cảm xúc đau buồn về cái chết, ngược lại mỗi lăng vua là một chốn thanh nhã để con ngưòi dạo chơi, ngắm nhìn và suy tưởng.




Huế còn nhiều - rất nhiều danh thắng để cho ta thưởng ngoạn và về với Huế không thể không nhắc đến, nhớ đến những cô gái ngiêng nghiêng vành nón với mái tóc thề óng mượt và nhất là tiếng "dạ" nghe mà ngọt lịm cả tâm hồn. Huế của ngày xưa là thế, Huế của ngày nay vẫn thế vẫn dịu dàng, vẫn xưa cổ, vẫn trầm mặc, vẫn u hoài...và vẫn rất Huế.

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=83101

Thơ David Budbill
daominhtuanus | 24 Jun, 2008, 14:28 | Chung | (134 Reads)
Ngày mai



ngày mai
mình là
tro xương,
rễ cỏ
ăn xuyên
qua sọ.

Hôm nay,
áo xuềnh xoàng,
đầu rỗng không,
bao tử đầy,
còn sống, biết,
ngay tại đây,
ngay bây giờ.

Say sưa nhạc,
ai cần rượu?

Thôi,
cưng à,
tụi mình đi nhảy
khi tụi mình hãy
còn chân.

Lý Lan dịch từ nguyên bản:Tomorrow
Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=76546

TRỊNH CÔNG SƠN - ĐÓA HOA VÔ THƯỜNG...
daominhtuanus | 09 Jun, 2008, 19:09 | Chung | (305 Reads)



Để tưởng niệm một ngọn đuốc lớn đã soi sáng âm nhạc
cũng như đã góp phần lật trang sử giống Lạc Hồng
Cách đây ít năm, tôi cùng nhà tôi đến thăm Sơn trong một buổi chiều nhạt nắng ở miền Nam. Trong suốt buổi viếng thăm, Sơn nói nhiều, điếu thuốc không hở trên tay, miệng vừa nhắp đều cốc rượu mạnh đã được pha loãng với nước. Nhưng Sơn không say chút nào. Cũng như khi sáng tác, Sơn không hề có ý trau chuốt nhiều. Ý tưởng và ngôn từ Sơn hôm ấy cứ tuôn ra như nước chảy, như thể đang sáng tác nhạc vậy. Chúng tôi im lặng ngồi nghe Sơn nói. Cũng như phong cách hàng ngày, ít nữa là vào những năm cuối đời, cử chỉ lời nói Sơn khoan thai, vừa để tiếp bạn từ xa, vừa chia sẻ chút tâm sự. Vì không sắp đặt trước nên câu chuyện hôm đó rất đáng ghi lại vì nó đã cho hậu thế một trong những cái nhìn cuối cùng hồn nhiên, không uốn nắn hay thêu dệt về nhạc sĩ. May thay hôm ấy chúng tôi có đem theo một máy vidéo cầm tay. Chúng tôi đã được chứng kiến một Sơn rất " Thiền ". Một Sơn chín muồi hơn thời " Diễm Xưa ". Nhờ thế, một cuộc thăm viếng thường đã trở thành một cuộc viếng thăm định mệnh vì đây là lần chót tôi gặp Sơn và cũng vì Sơn đã gởi gắm cho thế gian một đôi điều. Beethoven, hồi ở Heiligenstadt, 1802, viết thơ cho cháu Karl và em Johann không có ý viết chúc thư cho đời, nhưng hậu thế vẫn xem đó như lời di chúc nồng nàn nhất (chúc thư Heiligen-stadt). Mãi đến một phần tư thế kỷ sau ngày viết tâm thư đó, Beethoven mới thành người thiên cổ. Không cố ý tự vẽ mình, mà nhờ bức thư đó, hậu thế có dịp thấy rõ hơn Beethoven con người và Beethoven nghệ sĩ. Qua câu chuyện thân hữu hôm đó với chúng tôi, Sơn đã tô đậm thêm nét chân dung mình, phản ảnh một số nhân sinh quan, thẩm mỹ quan, tình yêu, tôn giáo, âm nhạc, cũng như thế giới và vai trò của thi sĩ, nghệ sĩ, v.v.Để nhớ Sơn, ta có thể nêu ra hai câu hỏi : thứ nhất, Sơn gần đây giống và khác với Sơn xưa ở những điểm nào ? và thứ nhì, họ Trịnh và Beethoven có những điểm giống và khác nhau ra saoấ? Vì sao nhắc đến nhà đại nhạc sĩ Đức ? đối chiếu ở đây không nhằm so sánh hơn thua, hay dở, nhưng chỉ có một mục đích là cho ta một nhận định rõ ràng hơn về người nhạc sĩ lỗi lạc yêu dấu của chúng ta. Cả hai đều là những " ngôi sao xuống từ trên trời ", một người xuống miền Tây, người kia xuống miền Đông, cách nhau hơn một thế kỷ rưỡi, nhưng có điều đặc biệt là họ một số điểm chung lớn. Mẫu số chung là hoài bão và tâm hồn lớn của họ, là đời sống tình cảm của họ, một số cảm nghĩ về đời sống và nghệ thuật, và nhất là cảm tình sâu xa của đồng bào đối với họ và vị thế tột đỉnh của mỗi người trong nền âm nhạc tại quê hương họ. Một điều nổi bật khác nữa là thời đại của hai nhạc sĩ là thời đại của giông ba bão táp, của cảnh thịt nát xương tan : một bên là chiến tranh giành giật phân chia đất đai (cho đến khi đại đế Napoléon bại trận năm 1814), bên kia là cuộc chiến giành độc lập thống nhất lãnh thổ. Nếu người thường ghi nhận niềm đau khổ một, mức nhạy cảm của nghệ sĩ cho họ ghi nhận mười. Cho đến nay tôi vẫn không chắc vì tất cả những lý do trên, hay có lý do nào khác, mà một khi nghĩ đến Trịnh Công Sơn, hình ảnh kinh cụ của con người nghệ sĩ đức có nhiều tâm huyết muốn quyết liệt chống trả định mệnh lại hiện ra trong trí tôi hầu như một ám ảnh.

Nắng buồn hơn mưa...

Trong câu chuyện, có lúc Sơn chỉ tay về phía cửa sổ, nói rằng nắng ở Canada, chỗ Sơn ở thăm gia đình một thời gian ngắn, vui hơn nắng ở Việt
Nam. Sơn nói nắng ở Âu Mỹ trắng mà vui hơn nắng ở đất Việt. Theo Sơn, nắng ở xứ ta vàng và buồn hơn mưa. Sơn nói ai cũng nói mưa buồn, nhưng Sơn không thấy vậy. Sơn nói " nắng cũng có cuộc đời của riêng của nó ". Nghĩa là nắng sống ngày ba buổi, sáng, trưa, chiều, trong khi đó mưa không vậy. Mưa chỉ rào xuống một cái rồi hết. Phải chăng đây là nhìn của thi sĩ ở trong Sơn ?

Thế giới nghệ sĩ



Sơn nói người nghệ sĩ có một thế giới, một đời sống riêng của mình. Sơn phụ thêm chữ Pháp le monde à soi, pour soi. Sơn giải thích rằng nếu không có đời sống riêng nầy thì nghệ sĩ không còn là nghệ sĩ hay nữa. Mà đời sống riêng tư đó là cái gì ? Không đợi chúng tôi hỏi, Sơn tự trả lời một mình : đời sống đó là một cái gì huyền ảo, đầy " mộng tưỏng ", nghĩa là nó vừa hư vừa thực. Nó gần giống thế giới bên ngoài nhưng "ấkhông hoàn toàn giốngấ". Sơn dùng chữ invraisemblable để nói rộng thêm về thế giới riêng nầy. Theo lời Sơn, đời sống riêng của nghệ sĩ cũng có cây cỏ có bông hoa, có chim chóc, có dáng dấp của con người đi qua, nhưng tất cả cái đó không hoàn toàn giống thế giới bên ngoài. Thế giới người thường là thế giới cụ thể, nhưng thế giới nghệ sĩ thì " mông lung... trừu tượng ". Sơn nói thế giới nghệ sĩ là thế giới ngoài đời " nhân lên mười lần ". Vì sao ? Sơn giải thích : sở dĩ như vậy là vì thế giới nghệ sĩ đầy " ước mơ... hy vọngấ". Sơn nhắc đi nhắc lại hai chữ " ước mơ ". Sơn nói nhờ có thế giới riêng nầy mà bài hát được tồn tại. Không có thế giới riêng nầy, vẫn theo Sơn, sẽ không có nhạc hay, sẽ nghèo nàn. Theo lời Sơn, lý do có nhạc không hay là vì tác giả không có cái thế giới riêng đó.


Vai trò nghệ sĩ


Nhân lúc câu chuyện đi đến chỗ bàn về nghệ sĩ, tôi có góp ý rằng nghệ sĩ tài ba chẳng qua là các thầy phù thuỷ (hiểu theo nghĩa tốt). Tôi nói các ông nhạc sĩ, họa sĩ lớn đã nhạy cảm đủ để nghe được trong khi kẻ khác không nghe được, thấy được trong khi kẻ khác không thấy được, cảm được trong kẻ khác không cảm được. Đó là của trời cho, là dấu hiệu thiên tài. Từ những cảm nhận nhạy bén nầy, các nghệ sĩ lớn biết cách tiêu hoá, nhào nặn, dùng phép thần thông, tạo cho đồng loại một thế giới mới, mở cửa cho đồng loại đi vào những chân trời huyền ảo nhớ nhung. Thiếu phép thần thông của thầy phù thuỷ thì đất sét trong tay thế gian vẫn là cục đất sét vô duyên. Người phàm có tai cũng như điếc, có mắt cũng như đui, có miệng cũng như câm. Vậy nghệ sĩ lớn trước hết là tai mắt của thế gian. Nhưng nghệ sĩ vừa là người ghi nhận, vừa là kẻ phát ngôn của đồng loại. Nghệ sĩ nói thay tiếng nói của đồng loại bất lực trong việc bày tỏ tâm trạng mình qua các tình huống đau khổ, hạnh phúc, nhớ nhung, khát vọng. Nhờ thế, qua tác phẩm văn nghệ, người đời tìm lại được bản thân của chính mình đã bị đánh mất. Thật một sự khám phá vô giá ! Cho nên đời vắng bóng nghệ sĩ là đời què quặt, nghèo nàn, mất mát không biết bao nhiêu mà kể ! Thấy tôi nói nghệ sĩ là thầy phù thuỷ, Sơn tỏ vẻ tán đồng. Song khi nghe tôi dùng chữ " phù thủy ", Sơn thoạt tiên dặm thêm chữ Pháp un magicien để dịch chữ phù thuỷ của tôi. Song khi cảm thấy tôi thắc mắc về chữ magicien (nhà ảo thuật) dùng để chỉ thầy phù thuỷ, thì Sơn đã nhanh nhẹn đổi ra chữ un sorcier. Tôi gật đầu để tán thành Sơn về sự sửa đổi ấy, vì thật ra sorcier là từ tôi nghĩ đến ngay từ đầu, nhưng vì thấy chữ phù thuỷ trong tiếng Việt quá hay nên tôi thấy không cần dùng ngoại ngữ làm gì.


Thi sĩ không phải là nhà tiên tri


Sơn nói sách báo thường cho thi sĩ là nhà tiên tri, nhưng thật sự không phải như vậy. Lý do ? Sơn giải thích rằng thi sĩ nhìn lá nhưng thấy đó không còn là lá nữa, nhìn cây, nhưng thấy đó không còn là cây nữa. Thi si thấy trước được những gì sẽ xảy ra cho những cây và lá ấy. Sơn khai triển thêm. Những câu chuyện ở đời nầy có những giai đoạn bắt buộc, nghĩa là lúc đến, phải đến, lúc đi phải đi. Thi sĩ cảm thấy được chu trình đó và đi trước người khác một " tí xíu " mà thôi, do đó, người ta cho thi sĩ là tiên tri, chứ thật ra thi sĩ không phải là nhà tiên tri. Thi sĩ chỉ khác không thi sĩ ở chỗ có thể cảm thông với cây cỏ, vạn vật mà người ta tưởng là vô tri, nhưng theo Sơn, thật sự không phải là vô tri. Sơn lấy ví dụ là nếu ta rời bỏ khu vườn của ta để đi một thời gian, khi trở về thì thoạt đầu ta thấy nó hoang vu, nhưng sự hoang vu buồn bã đó sẽ biến mất sau khi ta ngồi chơi với nó trong môt thời gian, ta sẽ đem lại " hơi ấm " cho nó và nó cũng phản lại, và như thế hai bên, người và vườn sẽ có " một sự giao hoà nào đó ".


Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau


Sơn nói với chúng tôi rằng mọi vật, ngọn lá hay bông hoa cũng có đời sống riêng của chúng. Có nhiều người cho đây là một hình thức thi vị hoá âm nhạc. Thế nhưng công việc thi vị hoá lắm khi lại là công việc gắng gượng, giả tạo. Với Trịnh Công Sơn, không cần cố sức thi vị hoá. Vì trong lời nói tự nhiên của Sơn đã có sẵn chất thơ rồi. Sơn nói " ...anh nhìn ngọn lá, có tình yêu trong ngọn lá, anh nhìn bông hoa, có tình yêu trong bông hoa... tất cả mọi cái đều có đời sống riêng ". Rồi Sơn giải thích cho chúng tôi tại sao Sơn hát . . ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau. Vì theo lời Sơn, sỏi đá có linh hồn riêng của nó, có đời sống riêng của nó. Sơn nhấn mạnh rằng sỏi đá cũng biết nhớ nhung, cũng biết nghe, biết nói. Chỉ vì mình không biết nghe mà thôi . Nhưng Sơn nói có người nghe được sỏi đá, có người không nghe được. Sơn nói sỏi đá có linh hồn và nó cũng biết buồn, biết nhớ nhung, và khi viên đá buồn, nó làm cho mình buồn. Sơn tin thật như vậy. Sơn nói nếu để sỏi đá rời nhau, xa nhau, thì chúng buồn, mà nếu để lại gần nhau thì chúng vui. Sơn nói một vật mình tưởng là vô tri, nhưng thực sự là nó không vô tri, vì nó có một đời sống, một " giá trị tự tại ". Sơn nói theo nhà Phật, trong cái thế giới ta bà nầy, mọi đồ vật và sinh vật như loài vật, thiên nhiên, sỏi đá... thật sự đều là một. Chúng có những sự liên hệ, giao hoà với nhau. Chúng cần lẫn nhau và nhờ vậy đời sống được thoải mái, dễ dàng hơn.


Ông chủ hiền, con chó cũng hiền


Sơn đi xa hơn. Sơn nói không những thiên nhiên, vạn vật, ảnh hưởng đến người, mà người cũng ảnh hưởng đến vạn vật và thiên nhiên. Ngoài câu chuyện khu vườn biết buồn khi chủ đi vắng, Sơn còn tâm sự thêm là Sơn đem về nhà một con chó Tây vốn rất giữ. Trước khi về nhà Sơn, chó đó nhe răng gầm gừ với khách. Nhưng khi về ở với Sơn thì nó trở nên hiền khô, không còn gầm gừ nhe răng với ai nữa.


Hạnh bố thí


Sơn tiếp tục ý tưởng về sự liên đới chặt chẽ giữa người với người, giữa người với muôn loài, với vạn vật. Sơn nói nếu tôi (thực ra, Sơn dùng chữ moitoi) kẹt quá, và tôi xin bạn một trăm nghìn (đồng) để tôi giải quyết vấn đề của tôi và bạn cho tôi số tiền đó, tức là bạn đã bố thí. Nhưng Sơn nói rằng bố thí bằng của cải vật chất, tiền bạc, là hạnh bố thí thấp nhất. Sơn nói theo nhà Phật, hạnh bố thí rất rộng. Có những hạnh bố thí cao hơn như khi bạn đang buồn, bạn đến với tôi, và tôi đã giúp bạn giải quyết nổi buồn đó. Sơn nói nhà Phật cho hạnh bố thí cao nhất là giúp đỡ người khác đang bị kẹt giải quyết vấn đề tâm linh hay tinh thần của họ.


Câu chuyện qua suối



Rõ ràng Sơn hôm ấy là cái Sơn muốn buông bỏ hơn vướng mắc. Sơn cho sự thảnh thơi tâm hồn là cần cho đời sống đáng sống. Nếu có lúc Sơn đã từng đam mê và ôm ấp thì hôm nay Sơn cho sự thanh thản, an lạc, hạnh phúc, tất cả đều nhất lý, là một. Sơn kể cho chúng tôi nghe một câu chuyện Thiền. Đây là một trong những bài khai tâm của Thiền môn, cho nên dù cho nhiều người biết chăng nữa, cũng xin ghi lại ở đây cho đầy đủ buổi nói chuyện hôm đó. Giọng Sơn bình dị nhưng vẫn duyên dáng, như được phát ra từ một nguồn cảm hứng mộc mạc, tự nhiên. Chuyện rằng, có hai thầy tu đi từ chùa trên núi xuống làng để mua đồ ăn, trên đường đi, phải qua một con suối lúc đó nước cạn. Trên đường về, đến cạnh bờ suối, hai tu sĩ đó gặp một cô gái trẻ đẹp trạc độ mười sáu, cũng đang tìm cách qua suối, nhưng lúc đó nước đã lên cao. Trong khi đang bối rối chưa biết tính sao thì một trong hai tu sĩ giúp cõng cô ta qua suối . Khi đã bỏ cô ta bên bờ suối bên kia, hai vị sư tiếp tục lên đường. Đi được một cây số, vị sư đã cõng cô gái hỏi vị sư kia rằng... sao từ lúc rời suối đến nay đã được một cây số rồi mà mặt bạn vẫn có vẽ ưu tư như vậy ? Vị kia trả lời : chúng ta là người tu hành, không được tiếp xúc với nữ giới, mà lúc nãy tại sao bạn lại cõng một cô gái như thế ? Vị sư cõng nói : giờ đây tôi cõng cô nào đâu... tôi không nhớ gì cả... vậy trong cây số qua, bạn là người cõng cô ấy chứ tôi đã hết cõng rồi... như vậy là bạn mệt quá rồi, chứ tôi không còn cõng nữa.


Biển sóng, biển sóng đừng xô nhau...


Sau câu chuyện qua suối, Sơn quay người lại để với các nút bấm của bộ máy stereo để đằng sau lưng. Tiếng hát Cẩm Vân dâng lên và bắt đầu bao phủ lấy căn phòng khách cùng phòng vẽ.
Biển sóng, biển sóng đừng xô tôi
Đừng xô tôi ngã dưới chân người
Biển sóng, biển sóng đừng xô nhau
Ta xô biển lại, sóng về đâu ?
Sóng bạc đầu, và núi chìm sâu
Ta về đâu đó ?
Nhạc nghe đến đây, Sơn nói chêm vào : " bài này viết là từ [lời] cầu kinh của Phật : Gate, Gate, Paragate, Parasamgate, Bodhi Svaha " (Một số trong chúng ta, kể cả chúng tôi, đã lớn lên với câu kệ Yết đế, yết đế, ba la yết đế, ba la tăng yết đế, bồ đề tát bà ha, song tụng như vẹt, phải đợi đến khi tóc ngả màu mới thấm được ý nghĩa sâu xa của nó). Sơn dịch ra chữ quốc ngữ đại để là " vượt qua, vượt qua, tất cả chúng ta đều vượt qua, và đến bờ giác ngộ ". Có phải Sơn là vừa là thi - nhạc sĩ, vừa là triết gia hay thiền gia ? Hôm đó Sơn cho chúng ta một tiết lộ. Sơn nói có người lầm cho đây là bài hát về tôn giáo. Theo chính lời Sơn, mặc dù bài hát nầy lấy cảm hứng từ đạo bụt, " nhưng mà mình viết về tình yêu ! ". Trong khi Sơn giải thích về xuất xứ và ý nghĩa bài hát, tiếng sóng Cẩm Vân vẫn dồn dập cho đến cuối bài.Về chốn nào, mây phủ chiêm bao
Cạn suối nguồn, bốn bể nương dâu
Ta tìm em nơi đâu ?
Biển sóng, biển sóng đừng xô nhau
Đến đoạn nầy, Sơn cất tiếng hát đệm theo tiếng ca Cẩm Vân cho đến hết bài. Vầng tráng Sơn nhăn nheo, mắt Sơn nhắm lại như đang thả hồn theo tiếng sóng rạt rào. Bấy giờ Trịnh Công Sơn với biển sóng hoàn toàn là một.Ta xô biển lại sóng nằm đau.
Biển sóng, biển sóng đừng xô tôi
Đừng xô tôi ngả dưới tim người.
Biển sóng, biển sóng đừng xô tôi
Đừng cho tôi thấy hết tim người.
Biển sóng, biển sóng đừng xô nhau,
Ta xô biển lại sóng về đâu ?
Giấc ngũ nào, giường chiếu quạnh hiu
Trăng mờ quê cũ
Người đứng chờ,
Gió động vi vu,
Vạt nắng vàng, nhắc lời thiên thu,
Nhớ ngàn năm trôi qua...
Biển sóng, biển sóng đừng trôi xa
Ba năm chờ đợi sóng gần ta.
Biển sóng, biển sóng đừng âm u
Đừng nuôi trong ấy trái tim thù.
Biển sóng, biển sóng đừng... xô... nhau...


Grumbacher nầy rất tốt


Tiếng hát Cẩm Vân vừa mới dứt, nhà tôi rút trong xách ra một món quà để trao cho Sơn. Chàng nhìn ra ngay đó là một trong những món đồ thích chí : " Tôi dự định sẽ chia tay với âm nhạc để viết những tạp bút ngẫu hứng và vẽ " ("Trò Chuyện với nhạc sĩ Trịnh Công Sơn," www.khanhly.com) (chữ viết hoa do tôi thêm). Phòng Sơn lúc đó có đầy tranh, một số có lẽ đã vẽ xong, một số hình như còn dang dở. Vì không được báo trước, nên khi thấy nhà tôi đưa quà biếu ra, Sơn có hơi ngạc nhiên một tí. Chàng hỏi : " Quà há ? ". Nhưng khi thấy quà là một hộp sơn dầu ngoại quốc ngoài có mang một nhãn hiệu quen thuộc, Sơn thốt lên ngay " Grumbacher nầy tốt lắm đó ... rất tốt. Cảm ơn nhiều lắm ". Nhà tôi hỏi mấy dạo sau này Sơn có vẽ nhiều không, Sơn trả lời : " Khi nào khoẻ thì làm... đêm ngồi buồn quá, lấy pinceau mà quẹt lên... thì cái màu nó gợi cái inspiration, vậy thôi, chứ còn nhạc thì nhiều khi âm thầm hơn... ". Ngoài ra, nhà tôi nói với Sơn là trong chuyến thăm nầy định đem biếu Sơn hai cuốn băng vidéo về âm nhạc, nhưng đã bị mất cả hai ở phi cảng. Một trong hai là phim về đời sống tình cảm của Beethoven (Immortal Beloved). đây là một câu chuyện tình thuộc loại " Diễm Xưa " của nhạc sĩ Đức, mà vì vậy chúng tôi nghĩ biết đâu khi xem, Sơn lại không tìm thấy một vài dư âm ?


Sơn và cố đô


Trong một bài phỏng vấn khá gần đây, Sơn thổ lộ : " Huế và đạo Phật ảnh hưởng sâu đậm trên tình cảm thời thơ ấu của tôi " (khanhly.com). Cho nên dù có trú ở đâu đi nữa, có thể nói Sơn luôn luôn nhớ nhà, nghĩa là nhớ Huế. Về mặt tình cảm, Sơn với Huế hình như không bao giời rời nhau được. Sự gắn bó đó vừa do những kỷ niệm sâu sắc của tuổi trẻ, vừa do hoàn cảnh lịch sử đấu tranh của đất nước, mà Sơn là người thực sự trong cuộc trong những ngày tháng sôi sục ở miền Trung, vừa do mối cảm tình lạ lùng với mảnh đất cằn cỗi nhưng linh thiêng của Phú Xuân. Trước thì như thế, nhưng thử hỏi vào những năm cuối đời mình, Sơn đã nghĩ gì về xứ Huế ? Trong buổi nói chuyện, có lúc Sơn nhắc rằng Huế vẫn buồn, vẫn nhỏ, vẫn " nghèo nàn dễ sợ " nhưng Sơn nói thêm rằng " tất cả mọi người phải đi qua Huế mới thành một con người... vì đó là thủ đô cũ ". Theo lời Sơn, Huế là nơi sản xuất nhiều nhân tài lịch sử và văn nghệ. Sơn nói " chỗ đó đã sinh đẻ ra " tất cả những nhân vật của lịch sử cận đại Việt
Nam và họ " đều đi qua Huế cả ". Trong các nhân vật lịch sử, văn hoá Sơn nhắc đến, có tên nhà thơ trữ tình cổ điển Xuân Diệu mà Sơn nói là người Bình Định cũng đã từng học ở Huế.


Hai vì sao sáng


Trên bình diện kỹ thuật, nhạc lý, không thể đối chiếu họ Trịnh với Beethoven được, và bài tưởng niệm nầy không có dụng ý đó. Lại càng không thể và không nên so sánh sự nghiệp của họ trong nền âm nhạc thế giới. Tuy nhiên nếu nhìn rộng hơn về con người, về suy tư, thái độ trước cuộc đời, tình yêu, quan điểm nghệ thuật, tác dụng của âm nhạc đối với người nghe... ta thấy có một khuynh hướng hội tụ cũng như phân kỳ nổi bật giữa hai thiên tài. Một lần nữa, sự giống nhau không phải chuyện hoàn toàn ngẫu nhiên vì có một số mẫu số chung lớn về đời sống tình cảm, về sự vật lộn với bệnh tật vào khoảng đời xế chiều, về thời đại nhiễu nhương, cũng như chí lớn của hai nhạc sĩ (mặc dù có sự phát biểu khiêm tốn của Trịnh Công Sơn về vai trò của mình : Tôi chỉ là một tên hát rong...Tôi không bao giờ có tham vọng trở thành một người viết ca khúc nổi tiếng...). Họ Trịnh và Beethoven đều là những tâm hồn đã vươn lên từ hố tuyệt vọng. Phải chăng những tâm hồn lớn thường hay gặp nhau ?
Trước nhất, về mặt âm hưởng, ta thấy chiều sâu của hai người đều thăm thẳm. Các bản tứ tấu đàn dây cuối cùng của Beethoven làm người nghe lên ruột, nạo sâu vào tâm can. Mặc dù không thể so sánh hai thể nhạc, tuy nhiên nếu mẫu số chung giữa các loại nhạc là ngôn ngữ, thì nếu nhạc của Beethoven là nhạc thuần tuý, nhạc Sơn là nhạc thơ, mà thơ là ngôn từ của chân thiện mỹ (Beethoven cũng có sáng tác một số nhạc bản đơn ca lớn, kể cả các bài bất hủ về tình yêu trong tác phẩm An Die Fern Geliebte). Vì có tính chất thơ nên nhạc Sơn phần nhiều nhẹ nhàng hơn, thanh thoát hơn nhưng vẫn vô cùng mặn mà, tha thiết. Nhạc lớn của Beethoven (dương cầm, tứ tấu, giao hưởng v.v.) có thể xuyên thủng tim người, gan người như chơi, nhưng chắc gì đã thấm qua sỏi đá, vạn vật như Sơn vẫn tin tưởng ? Vả lại, Sơn đâu chỉ viết nhạc cho người ? Sơn muốn nói chuyện với tất cả muôn loài. Nhạc Sơn đi vào tâm khảm con người, tâm khảm của vạn vật. Sơn muốn thế. Âm thanh Sơn, ngôn ngữ Sơn đi xuyên qua tim đồng loại nơi nơi, thấm vào sỏi đá, lan vào cây cỏ. Giá nếu người đời nghe được tiếng nói của vạn vật, sẽ nghe vạn vật tâm sự... " tôi nghe Trịnh Công Sơn rồi, tôi hiểu Trịnh Công Sơn rồi... "Đề tài Sơn rất lớn, rất bao la, rất thấm thía. Lồng qua các chủ đề rất gần gũi với nhạc sĩ như tình yêu, quê hương, và thân phận, trong nguồn cảm xúc và đối tượng sáng tác của họ Trịnh, người ta thấy một thế giới súc tích bao gồm cả đời, người, chân-thiện-mỹ, vũ trụ, cái chết, và hư vô. Và nhờ vậy, hậu thế mới có một di sản âm nhạc phong phú đồ sộ đến như thế ! (Về điểm nầy, Trịnh Công Sơn giống Friedrich Schiller, một thi hào ưa chuộng của Beethoven, hơn Beethoven. Đối tượng của thơ Schiller cũng rất to lớn : có người, có thiên nhiên, có vũ tru, có Thượng đế). Nhạc Beethoven, vì tự bản chất, có thể nói phần lớn không có chủ đề theo nghĩa thông thường. Vả lại, nhạc lớn như thế tự nó nói lấy, cần gì có chủ đề. Trong khi thính giả của Beethoven là người, là thiên thần, là chúa trời, thính giả của Sơn là đồng bào, là đồng loại, là vạn vật, là vũ trụ. Tầm thước của Trịnh Công Sơn, cũng như Beethoven, là ở chỗ họ đã dùng ngôn từ của chính chúng ta để nói thay chúng ta. Ngôn từ của Trịnh Công Sơn là tiếng nói của chúng ta tìm lại được. Tiếng nói đây cũng là tiếng nói của tự tình mình, của tự tình dân tộc, của tình người. Nếu An Die Freude (Ca Ngợi Niềm Vui, thơ của Schiller, Beethoven phổ nhạc trong giao hưởng số 9) đã làm rúng động năm châu, thì Nối Vòng Tay Lớn cũng vang dội như một địa chấn từ Bắc vô Nam, từ đông sang Tây.Vượt qua tự tình dân tộc để đến với tình người có thể là một trong đỉnh cao nhất của Trịnh Công Sơn. Mấy ai đã không khỏi mủi lòng khi nghe Sơn chuyển từ tiếng khóc não nùng giọt nước mắt thương dân, dân mình phận long đong... đến lời van lơn . . . ôi nhân loại . . . không ai thù ghét ai. . . Nếu trong vũ trụ quan của họ Trịnh, cũng như Beethoven, có bóng dáng của Thượng đế, thì cuối đời, Sơn thích làm nhà ở cõi vô vi. Trong khi nhạc sĩ Đức than thân, trách phận đã oái ăm dáng cho mình cái bệnh nan y (chúc thư Heiligenstadt) thì Sơn điềm nhiên đừng tuyệt vọng, tôi ơi đừng tuyệt vọng... với tôi là ai mà yêu quá đời nầy. Trong khi Beethoven trách móc đồng loại ôi nhân thế tôi ơi... các người xem tôi như kẻ ghét người... là oan ức cho tôi lắm..., họ Trịnh cũng có lúc hoài nghi một cách nên thơ đôi tay nhân gian chưa từng độ lượng... Nhưng hoài nghi đó không giữ lâu vì thân phận thì hữu hạn. Tình yêu thì vô cùng. Chúng ta làm cách nào nuôi dưỡng tình yêu để tình yêu có thể cứu chuộc thân phận...Không phải Sơn không có nhiều nỗi khổ riêng, kể cả đời sống tình cảm : và tôi đau đớn nhận ra rằng, có lẽ cuộc đời đã cho ta lắm ngày bất hạnh. Ai cũng biết hai thiên tài bên trời đông và trời Tây đều có đời sống tình cảm phức tạp. Về điểm nầy, không biết vì run rủi hay định mệnh mà hơn một thế kỷ rưỡi sau, họ Trịnh đã làm người phát ngôn tuyệt vời cho Beethoven khi chàng viết : Cuối cùng thì tình yêu không giữ được người mình yêu. Nhưng phương cách đối xử mỗi người một khác. Trong khi Beethoven viết An Die Fern Geliebte (Cho Người Tình Xa), Sơn cho ra đời Diễm Xưa.Trong khi bị bệnh tai hành hạ từ năm 25 tuổi cho đến khi hoàn toàn điếc vào khoảng dưới 50, Beethoven còn phải khổ sở chống đỡ nhiều chứng bịnh kinh niên khác và cuối cùng đành bại trận trước bệnh ruột và gan vào năm 57 tuổi. Rượu là một trong những nguyên do chính. Trong thập niêm cuối đời, họ Trịnh cũng trải qua một số kinh nghiệm tương tự, kể cả rượu, và đã trở về cát bụi năm 62 tuổi. Đối với phàm nhân, đau khổ làm cho tâm hồn băng hoại. Cho nên hai thiên tài họ Trịnh và Beethoven có một điểm chung nữa rất lớn : đau khổ là thuốc bổ cho sáng tạo. Thay vì tàn lụi như cỏ sa mạc, với họ, đau khổ đã đơm hoa, khai quả cho nghệ thuật, những hoa quả tươi mát, dịu ngọt, làm cho đời nhẹ nỗi trần ai. Họ là bình minh của cuộc đời, của vũ trụ.Về triết lý sáng tác, trong khi Beethoven trau chuốt từng nốt, từng câu, Sơn có lối viết nhẹ nhàng, thoải mái hơn. Nhạc sĩ Nguyễn Xuân Khoát đã có nhận xét hay : Trịnh Công Sơn " viết dễ như lấy chữ trong túi ra ". Việc Beethoven xé bỏ bản thảo của mình không phải là chuyện hiếm. Nhạc sĩ Đức nổi tiếng là người có tánh hay bực bội, nóng nảy. Beethoven đã có lúc khâm phục ca ngợi người hùng đại đế Napoléon. Người ta kể rằng, sau khi nghe tin đại đế gây cảnh khói lửa tang tóc ở Âu Châu, chàng đã xé toang trang tựa bản thảo bản giao hưởng Anh hùng ca (giao hưởng số 3) có ghi lời đề tặng cho đại đế. Trái lại, Sơn tánh vốn thường đằm đẹ, trông có vẻ bình thản hơn trong mấy năm cuối đời mình. Beethoven luôn luôn là con người của đam mê tột độ. Sơn cũng đã từng có một thời rất Beethoven : Như thế, với cuộc đời, tôi đã ôm một nỗi cuồng si bất tận (TCS). Đều là máu nghệ sĩ thứ thật cả !

Nhất lý hay nhị nguyên


Với Trịnh Công Sơn, cũng như phần nào đối với Beethoven, ta còn thấy thể hiện một số " phản đề " khá thú vị trong tư tưởng Thiền và triết học, là ngành Sơn đã học và suốt đời rất thích. Các phản đề đó là : (1) giải thoát và vướng mắc, (2) đổi thay và chân lý, (3) đời buôn chôn và lòng vị tha. Là nguồn cảm hứng lớn, các phản đề nầy đã làm giàu kho tàng văn hóa nhân loại. Chúng bám chặt thiên tài nơi nơi, không bao giờ chịu nhả ra và cũng không phân biệt ranh giới quốc gia hay chủng tộc (tài/mệnh của Nguyễn Du; người gù/mỹ nhân của Victor Hugo ; Anna Karenina của Leo Tolstoy...). Có lẽ Trịnh Công Sơn đủ thông Thiền để thấy rằng hạnh phúc và đau khổ _ mới nghe qua có vẽ tương phản _ sự thật không phải là hai trạng thái đối kháng nhau ; với Thiền, chúng chỉ là một. Cũng có lẽ vì thế mà Sơn không thấy có gì mâu thuẫn trong các hình ảnh hay ý niệm đối nghịch nhau trong một số lời ca của mình.


Rất Beethoven mà cũng rất Sơn


Trong chúc thư Heiligenstadt, trong giây phút tuyệt vọng, Beethoven đã phơi bày tâm sự nảo nề với Karl và Johann : " Ôi nhân thế tôi ơi, các người đã từng xem tôi hay nói về tôi như kẻ bất nhân, không tình nghĩa, hay thậm chí còn xem tôi như kẻ thù ghét người, các người có biết như vậy là oan ức cho tôi lắm không... chỉ vì các người không biết lý do thầm kín nào đã làm tôi có bộ mặt như vậy... từ lúc nhỏ tim tôi, tâm hồn vẫn hướng về tình thương và thiện ý... nhưng sáu năm qua bệnh nan y của tôi đã làm tôi khổ và bầy y sĩ vô tài đã làm tôi khổ sở hơn. Năm nầy qua năm khác, hy vọng khỏi bệnh biến theo mây khói làm tôi phải chấp nhận viễn tượng bị tàn tật suốt đời... trời phú cho tính hăng say mãnh liệt... mà rồi tôi cũng phải rút lui sống trong cô đơn... Có lúc tôi muốn quên mình bị tàn tật, nhưng than ôi, bệnh nghiệt ngã của tôi vẫn hành tôi mà thậm chí tôi vẫn không đủ can đảm để nói lớn : "Các người hãy hét lên bởi vì tôi điếc". Làm sao tôi dám thú với người ta rằng tôi bị tật về một cơ năng đáng lẽ phải được toàn thiện ở tôi hơn ở người khác... Lạy Chúa linh thiêng, xin ngài nhìn xuống tâm hồn và tim con, ngài thấy tim con lúc nào cũng đầy tình thương người và ước mong làm điều thiện... Hãy dạy con cái [của Karl và Johann] biết làm điều lành, bởi vì theo kinh nghiệm bản thân tôi, chỉ có cái đức mới đem lại hạnh phúc chứ không phải tiền tài...chính cái đức đã nuôi dưỡng tôi trong lúc tuyệt vọng. Chính nhờ có lòng nhân ái và nghệ thuật mà tôi đã không chấm dứt đời mình bằng tự vận ".
Trong khi Beethoven phẫn nộ cay cú với định mệnh, Sơn nhẹ nhàng ca ru đời đi nhé. Cái Sơn thật là cái Sơn đã có lần thốt Sống mà giữ mãi trong lòng những hờn oán thì cũng nặng nề. Trong đoản văn" để bắt đầu một hồi ức ", Trịnh Công Sơn cũng tâm tình tương tự như Beethoven, nhưng thiếu cái vị mặn, vị chát của nhạc sĩ Đức : Tôi yêu cuộc đời và cuộc đời cũng yêu tôi. Đó là niềm an ủi lớn trong cuộc sống nầy. Vì thế lòng tôi không có một giây phút nào nuôi một lòng oán hận với cuộc đời. Dù có đôi khi nhân gian bạc đãi mình, và con người phụ rẫy mình nhưng cuộc đời rộng lớn quá và mỗi chúng ta chỉ là những hạt bụi nhỏ nhoi trong trần gian mà thôi. Giận hờn, trách móc mà làm gì bởi vì cuộc đời sẽ xoá hết những vết bầm trong tâm hồn chúng ta nếu lòng ta biết độ lượng. Ta biết tha thứ những điều nhỏ thì cuộc đời sẽ tha thứ cho ta những điều lớn hơn... Tôi đến với âm nhạc có lẽ cũng vì tình yêu cuộc sống.Trịnh Công Sơn chia tay với chúng ta để vào thế giới những người không bao giờ chết. Ở đó Sơn đã gặp mẹ và Beethoven. Nếu, theo Thiền, sự trở về đích thực là sự trở về với mình, là sự đi đến sau những năm tháng say sưa dấn thân cho nghệ thuật, cho quê hương, cho đồng loại, cho vạn vật, thì nay Sơn đã trở về.Đời như vô tận, một mình tôi về. Với tôi.


Võ Xuân Hân
 



Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=73532

Thơ điên của Hàn Mặc Tử
daominhtuanus | 03 Jun, 2008, 14:14 | Chung | (2525 Reads)

Một lần lang thang đến Quy Nhơn, ghé Ghềng Ráng rồi thăm mộ thi sĩ họ Hàn ghi lại một vài tấm hình về làm tư liệu…

Một đêm đầu óc rổng không lang thang trên mạng và bắt gặp một khảo luận đáng để chiêm nghiệm thôi thì cứ cho lên blog như một nén nhang đến con người tài hoa mà bạc mệnh Hàn Mặc Tử…


 





Hàn Mặc Tử ( 1912-1940) . Sinh ngày 22 Sep. 1912 ở Lệ Mỹ ( Đồng Hới ) mất ngày 11 Nov.1940 . Trú ngụ ở Qui Nhơn từ nhỏ . Nhà nghèo , cha mất sớm . Học trường Qui Nhơn đến năm thứ ba . Làm sở Đạc Điền một độ, bị đau rồi mất việc .Vào Nam làm báo ít lâu lại trở về Qui Nhơn . Kế đó mắc bịnh hủi , đưa vào nhà thương Quy Hòa rồi mất ở đó . Làm thơ từ ngày 16 tuổi ( lấy hiệu là Phong Trần rồi Lệ Thanh ) . Đến năm 1936 , khi chủ trương tờ phụ trương văn chương báo Sài Gòn mới đổi hiệu là Hàn Mặc Tử . Đã đăng thơ : Phụ Nữ Tân Văn , Sài Gòn , Trong Khuê Phòng , Đông Dương Tuần Báo , Người Mới . Đã xuất bản Gái Quê ( 1936) . *** Tôi đã nghe người chê Hàn Mặc Tử nhiều lắm . Có người bảo : " Hàn Mặc Tử thơ với thẩn gì ! toàn là nói nhảm ". Có người còn nghiêm khắc hơn nữa :" Thơ gì mà rắc rối thế ! mình tưởng có ý nghĩa khuất khúc , cứ đọc đi đọc lại hoài , thì ra nó lừa mình ! " . Xuân Diệu có lẽ cũng nghĩ đến Hàn Mặc Tử trong khi viết đoạn này :" Hãy so sánh thái độ can đảm kia ( thái độ của những nhà chân thi sĩ ) với những cách đột nhiên mà khóc , đột nhiên mà cười , chân vừa nhảy , miệng vừa kêu : tôi điên đây ! tôi điên đây ! _Điên cũng không dễ làm như người ta tưởng đâu . Nếu không biết điên , tốt hơn là cứ tỉnh táo như thường mà yên lặng sống ". Nhưng tôi cũng nghe có những người ca tụng Hàn Mặc Tử . Trong ý họ , thi ca Việt Nam chỉ có Hàn Mặc Tử . Bao nhiêu thơ Hàn Mặc Tử làm ra , họ đều chép lại và thuộc hết . Mà thuộc hết thơ của Hàn Mặc Tử đâu phải là chuyện dễ . Đã khúc mắc mà lại nhiều : tất cả đến sáu bảy tập . Họ thuộc hết và chọn những lúc đêm khuya thanh vắng , họ sẽ cao giọng , ngâm một mình . Bài thơ đã biến thành bài kinh và người thơ đã trở nên một vị giáo chủ . Chế Lan Viên nói quả quyết : " Tôi xin hứa hẹn với các người rằng , mai sau , những cái tầm thường , mực thước kia sẽ biến tan đi , và còn lại của cái thời kỳ này chút gì đáng kể đó là Hàn Mặc Tử " . Ngót một tháng trời tôi đã đọc thơ Hàn Mặc Tử . Tôi đã theo Hàn Mặc Tử từ lối thơ Đường đến vở kịch bằng thơ Quần Tiên Hội . Và tôi đã mệt lả . Chính như lời Hàn Mặc Tử nói trong bài tựa thơ Điên , vườn thơ của người rộng rinh không bờ bến , càng đi xa càng ớn lạnh . Bây giờ đã ra khỏi cái thế giới kỳ dị ấy và đã trở về với cuộc đời tầm thường mà ý nhị , tôi thử xếp đặt lại những cảm tưởng hỗn độn của tôi . Thơ Đường Luật:Theo ông Quách Tấn , Phan Sào Nam hồi trước xem thơ Đường Luật của Hàn Mặc Tử có viết trên báo đại khái nói :" Từ về nước đến nay , tôi được xem thơ quốc âm cũng khá nhiều , song chưa gặp được bài nào hay đến thế ...Ôi hồng nam nhạn bắc , ước ao có ngày gặp gỡ để bắt tay nhau cười lên một tiếng lớn ấy là thỏa hồn thơ đó .Thơ Đường Luật Hàn Mặc Tử làm ra nhiều nhưng bị thất lạc gần hết , tôi không được xem mấy bài . Song trong những bài tôi được xem , tôi cũng đã gặp ít câu hay , chẳng hạn như : Nắm gắng đã không thành mộng được , Ngâm tràn cho đỡ chút buồn thôi. Dầu sao tôi vẫn nghĩ cái khuôn khổ bó buộc của luật Đường có lẽ không tiện cho sự nẩy nở một nguồn thơ dạt dào và lạ lùng như nguồn thơ Hàn Mặc Tử . Gái Quê:Nhiều bài có thể là của ai cũng được . Còn thì tả tình quê trong cảnh quê . Lời thơ dễ dàng , tứ thơ bình dị . Nhưng tình ở đây không có cái vẻ mơ màng thanh sạch như mối tình ta vẫn quen đặt vào trong khung cảnh những vườn tre , những đồi thông . Ấy là một thứ tình nồng nàn , lơi lả , rạo rực , đầy hình ảnh khêu gợi . Ông Phạm Văn Kỳ đề tựa cho tập thơ ấy là phải lắm : Gái Quê và Une voix sur la voie đều bắt nguồn trong tình dục . Thơ Điên :Thơ Điên gồm có ba tập : 1) Hương Thơm . 2) Mật Đắng . 3) Máu Cuồng và Hồn Điên . Hương Thơm :Ta bắt đầu bước vào một nơi ánh trăng , ánh nắng , tình yêu và cả người yêu đều như muốn biến ra hương khói . Một trời tình ái mới dựng lên đâu đây . Tuy có đôi vần đẹp , cảm giác chung tẻ nhạt thế nào . Mật Đắng : Ta vẫn đi trong mờ mờ . Nhưng thỉnh thoảng một luồn sáng lạ chói cả mắt . Nguồn sáng tỏa ra từ một linh hồn vô cùng khổ não . Ta bắt gặp dấu tích còn hoi hóp của một tình duyên vừa chết yểu . Thất vọng trong tình yêu , chuyện ấy trong thơ ta không thiếu gì , nhưng thường là một thứ buồn dầu có thấm thía vẫn dịu dịu . Chỉ trong thơ Hàn Mặc Tử mới thấy một nỗi đau thương mãnh liệt như thế . Lời thơ như dính máu . Máu Cuồng và Hồn Điên : Đến đây ta đã hoàn toàn ra khỏi cái thế giới thực và cái thế giới mộng của ta . Xa lắm rồi . Ta thấy những gì chung quanh ta ? Trăng , toàn trăng , một ánh trăng gắt gao , ghê tởm , linh động như một người hay đúng hơn một yêu tinh . Trăng ở dây cũng ghen , cũng giận , cũng cay nghiệt , cũng trơ tráo và cũng náo nức dục tình . Hàn Mặc Tử đi trong trăng , há miệng cho máu tung ra làm biển cả , cho hồn văng ra , và rú lên những tiếng ghê người ...Ta rùng mình ngơ ngác , ta đã lục lọi khắp trong đáy lòng ta , ta không thấy cái gì giống cái cảnh trước mắt . Trời đất này thực của riêng Hàn Mặc Tử . Ta không hiểu được và chắc cũng không bao giờ ai hiểu được . Nghĩ thế ta bỗng thương con người cô độc . Đã cô độc kiếp này và e còn cô độc đến muôn kiếp . Hàn Mặc Tử chắc cũng biết thế nên lúc sinh thời người đã nguyền với Chúa sẽ không bao giờ cho xuất bản Thơ Điên . Một tác phẩm như thế , ta không thể nói hay hoặc dở , nó đã ra ngoài vòng nhân gian

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=71951

HÌNH NHẶT ĐƯỢC TRÊN CHUYẾN NHÀN DU...
daominhtuanus | 29 May, 2008, 12:35 | Chung | (360 Reads)

      Mấy hôm nay bận quá không có gì trên blog, thôi thì cũng dành chút thời gian trình làng vài tấm hình của một chuyến đi ...



BẾN SÔNG TRĂNG



ĐỘC HÀNH


HUẾ XƯA



SƯƠNG SỚM ĐA MY



TÌM NGUỒN NƯỚC

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=70755

CUỐI TUẦN
daominhtuanus | 23 May, 2008, 10:56 | Chung | (89 Reads)


Về thôi ! một tuần với công việc, với vui, với buồn với những gì chưa được, những gì đã được…cũng trôi qua. Về thôi ! về và hứa với lòng rằng hai ngày cuối tuần là hai ngày không công việc, không mạng, không blog… hai ngày thãnh thơi như cánh chuồn vô tư lự trong vườn nhà.  Mong là vậy !
Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=69555

THƠ NHẶT BÊN ĐƯỜNG…
daominhtuanus | 22 May, 2008, 21:51 | Chung | (86 Reads)
Th… 1


Đêm chợt rớt
Người chợt say
Khề khà chợt nhớ những ngày xa xăm
Em chừ hoá đá nơi mô
Anh ngồi đếm hạt đêm rơi…
Say mèm !                                                 

                                Khuya 22 tháng 5 năm 2008
Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=69469

1 2  Sau»